Home

Thứ Bảy, 21 tháng 6, 2014

Đặc trưng văn hóa giao tiếp của người Việt Nam

|0 nhận xét



Mỗi quốc gia và khu vực có nền văn hóa và thói quen giao tiếp khác nhau. Người Việt Nam mang bản sắc Châu Á, tuy nhiên có rất nhiều nét khác trong giao tiếp so với các quốc gia trong khu vực. Xét tổng thể, người Việt có 6 đặc điểm trong giao tiếp sau:

Thói quen giao tiếp của người Việt phụ thuộc nhiều vào nét văn hóa cộng đồng, làng xã (ảnh minh họa)

- Thái độ giao tiếp: Vừa thích giao tiếp, vừa rụt rè.

Hai tính cách trái ngược nhau cùng tồn tại, nhưng không hề mâu thuẫn nhau, đó cũng là sự thể hiện tính linh hoạt trong giao tiếp của người Việt Nam.

- Quan hệ giao tiếp: Lấy tình cảm làm nguyên tắc ứng xử.
Nguồn gốc văn hoá nông nghiệp với đặc điểm trọng tình đã dẫn người Việt tới chỗ lấy tình cảm, lấy sự yêu ghét làm nguyên tắc ứng xử. Trong cuộc sống người Việt có lý có tình, nhưng vẫn thiên về tình hơn. Khi cần cân nhắc giữa lý và tình thì tình vẫn được đặt cao hơn lý.

- Đối tượng giao tiếp: Ưa tìm hiểu, quan sát, đánh giá.
Người Việt Nam thích tìm hiểu về tuổi tác, gia đình, nghề nghiệp, trình độ học vấn…của đối tượng giao tiếp. Đặc tính này cũng là một sản phẩm nữa của tính cộng đồng làng xã mà ra. Do tính cộng đồng, người Việt thấy mình tự có trách nhiệm quan tâm tới người khác, nhưng muốn quan tâm hay thể hiện sự quan tâm đúng mực thì phải biết rõ hoàn cảnh. Ngoài ra, do đặc thù ngôn ngữ và các mối quan hệ xã hội, cần tìm hiểu để có cách xưng hô cho thoả đáng. Biết tính cách, biết người để lựa chọn đối tượng giao tiếp cho phù hợp.

- Chủ thể giao tiếp: Trọng danh dự
Danh dự được người Việt gắn với năng lực giao tiếp: Lời nói ra tạo thành tiếng tăm, được lưu truyền đến tai nhiều người, tạo nên tai tiếng. Chính vì quá coi trọng danh dự mà người Việt mắc bệnh sĩ diện. Ở thôn làng, thói sĩ diện thể hiện càng rõ ràng, trầm trọng, nhất là tục chia phần (một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp).

- Cách thức giao tiếp: Ưa sự tế nhị, ý tứ và trọng sự hoà thuận.
Lối giao tiếp tế nhị khiến người Việt có thói "vòng vo tam quốc", không đi thẳng, trực tiếp vào vấn đề như người phương Tây. Chính lối giao tiếp ưa tế nhị này mà người Việt rất đắn đo, cân nhắc trong ứng xử và rồi cũng chính sự đắn đo, cân nhắc này mà người Việt trở nên thiếu quyết đoán trong công việc. Để tránh nhược điểm này hay không để mất lòng ai, người Việt Nam đã thay thế bằng nụ cười.

- Nghi thức lời nói: Hệ thống xưng hô và cách nói lịch sự rất phong phú.
Hệ thống xưng hô có tính thân mật hoá (trọng tình cảm), tính xã hội hoá, cộng đồng hoá cao. Thậm chí, cách nói lịch sự của người Việt Nam cũng rất phong phú, không chung chung như của phương Tây, mỗi trường hợp khác nhau lại có một các xưng hô cho phù hợp. 
Theo kynanggiaotiep.edu.vn

VĂN HÓA GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI VIỆT NAM

|0 nhận xét
Mỗi quốc gia sẽ có một nền văn hóa, thói quen, văn hóa giao tiếp khác nhau. Có thể nói người Việt Nam mang bản sắc Châu Á, nhưng lại có nhiều nét khác biệt trong giao tiếp so với các quốc gia trong khu vực. Vậy đâu là sự khác việt về văn hóa giao tiếp của người Việt Nam so với các quốc gia trong khu vực, chúng ta hãy thử cùng tìm hiểu nhé.

VĂN HÓA GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI VIỆT NAM ĐÓ LÀ VỪA THÍCH GIAO TIẾP, VỪA RỤT RÈ.

Người Việt Nam quan tâm đến việc giữ gìn các mối quan hệ với mọi thành viên trong tập thể, cộng đồng. Nguyên nhân này khiến cho văn hóa giao tiếp của người Việt Nam rất coi trọng đến việc giao tiếp, và được thể hiện ở 2 điểm chính sau:
Chủ nhà thích có khách viếng thăm. Việc khách đến nhà thăm là hành động biểu hiện của tình cảm, tình nghĩa, sự quan tâm giữa các thành viên trong gia đình, của xóm làng, nhằm giúp thắt chặt thêm mối quan hệ.
Chủ nhà có tính hiếu khách: “Khách đến nhà chẳng gà thì gỏi, bởi  lẽ đói năm, không bằng đói bữa”. Khi có khách đến nhà, cho dù là người thân quen hay xa lạ, thì chủ nhà luôn tiếp đãi khách một bữa thịnh soạn cho dù gia cảnh lúc đó có khó khăn, tính hiếu khách càng được thể hiện rõ ràng hơn khi bạn về những vùng nơi hẻo lánh, hay miền rừng núi xa xôi.
Tuy nhiên trong văn hóa giao tiếp của người Việt Nam, thì người Việt nam lại có một đặc tính đó là sự rụt rè. Sự tồn tại của hai tính cách trái ngược này xuất phát từ đặc tính cơ bản tính cộng động và tính tự trị. Trong một môi trường có tính cộng động thì người Việt Nam giao tiếp rất cởi mở, nhưng vào môi trường mà tính ngự trị phát huy tác dụng thì người Việt Nam luôn tỏ ra rụt rè. Có thể nói chúng chính là hai mặt cùng một bản chất, là biểu hiện cho cách ứng xử của người Việt Nam.
van hoa giao tiep cua nguoi viet nam1 Văn hóa giao tiếp của người Việt Nam

VĂN HÓA GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI VIỆT NAM LUÔN LẤY TÌNH CẢM LÀM NGUYÊN TẮC ỨNG XỬ:

Một bồ cái lý không bằng một tý cái tình. Người Việt Nam sống có lý, có tình nhưng thiên về tình cảm hơn mọi thứ trên đời. Ai đã giúp mình một lần thì phải nhớ ơn, ai đã chỉ bảo ban thì cũng phải tôn làm thầy “một chữ là thầy, nữa chữ là thầy”
Người việt Nam có thói quen ưa tìm hiểu, quan sát, đánh giá đó là một đặc trưng trong văn hóa giao tiếp của người Việt Nam.
Có thể do bị ảnh hưởng bởi tính cộng đồng, nên người Việt Nam luôn thấy mình cần có trách nhiệm quan tâm đến người khác, và để thể hiện sự quan tâm đó thì họ cần biết rõ hoàn cảnh. Đó là lí do vì sao mà bạn phải thường xuyên trả lời những câu hỏi có liên quan đến quê quán, trình độ học vấn, địa vị xã hội, công việc, gia đình, bố mẹ…..Ngoài ra, do lối sống tình cảm, nên trong giao tiếp người Việt Nam luôn có cách xưng hô riêng cho cá thể khác nhau cho phù hợp.

 VĂN HÓA GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI VIỆT NAM CÓ MỘT ĐẶC ĐIỂM LÀ TRỌNG DANH DỰ:

Có thể nói chính vì quá coi trọng danh dự nên người Việt Nam mắc bệnh sĩ diện, thói quen sĩ diện được thể hiện rất rõ ở các làng, do danh dự sĩ diện mà các cụ già ở quê có thể to tiếng với nhau chỉ vì một miếng ăn” một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp” .

 TRONG GIAO VĂN HÓA GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI VIỆT NAM THÌ HỌ LUÔN ƯA SỰ TẾ NHỊ, Ý TỨ, CŨNG NHƯ THÍCH SỰ HÒA THUẬN.

“Miếng trầu là đầu câu chuyện”Cũng chính vì sự tế nhị nên trong giao tiếp người Việt Nam luôn chọn cách vòng vo khi trình bày hay giải thích một vấn đề chính nào đó, nhằm làm hạn chế mâu thuẫn. Lối giao tiếp ưa tế nhị, ứ tứ là sản phẩm của lối sống trọng tình, lối sống tư duy trong các mối quan hệ. Chính sự tế nhị trong giao tiếp đã tạo nên sự đắn đo cân nhắc khiến cho người Việt Nam có nhược điểm là thiếu quyết đoán, nhưng đồng thời giữ được sự hòa thuận không mất lòng. Và nụ cười là một bộ phận quan trọng trong thói quen giao tiếp của người Việt Nam, bạn có thể gặp nụ cười Việt Nam vào cả lúc ít chờ đợi nhất.

 NGÔN TỪ ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG VĂN HÓA GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI VIỆT NAM RẤT PHONG PHÚ.

Có thể kể đến đầu tiên là hệ thống xưng hô. Người Việt Nam dựa vào mối quan hệ họ hàng để xưng hô. Xưng hô dựa trên
Tinh chất thân mật hóa (quan trọng tình cảm) xem mọi người trong cộng đồng như bà con, họ hàng. Ví dụ như: một cụ già ngoài đường thì xưng hô “bà-cháu”
Tính chất cộng đồng hóa cao có nghĩa là không có những từ xưng hô chung mà phụ thuộc vào tuổi tác, địa vị, thời gian không gian cụ thể, hoặc gọi theo thứ tự ..Ví dụ như: “ông- con”, “anh-tôi”,”anh tư” chẳng hạn.
Hanhtrinhdelta.edu.vn (nguồn: internet)

Thứ Hai, 16 tháng 6, 2014

VĂN HÓA NÓI NGỌNG CỦA NGƯỜI VIỆT NAM

|0 nhận xét

(VHN) - Bao giờ dân Việt Nam mới hết nói ngọng?

1- Bắc kỳ
Cơ bản sự “ngọng” của dân Bắc kỳ là phát âm “nhẹ” hẳn đi các phụ âm dẫn đầu mỗi chữ (như tr, r, s). Các Ngôn ngữ gia khắt khe hơn thì cho rằng người Bắc “lười” không chịu khó uốn lưỡi một chút cho đúng âm mà lại chọn khuynh hướng đọc dễ dàng hơn: giảm bớt cái âm uốn cong hay cao lên của phụ âm đầu.
Dân Bắc kỳ nhất là các vùng Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh, Nam Định, Hà Nam, Bắc Ninh, v.v…, và ngay cả dân cư đất “ngàn năm văn vật” – 13 huyện Hà Nội – rất “phổ thông” nói ngọng líu lo (và đặc biệt bị lưu tâm nhiều nhất) hai phụ âm “l,n.” Chẳng hạn:
“Đi Hà lội mua cái lồi về lấu cơm lếp”
(“Đi Hà nội mua cái nồi về nấu cơm nếp”)
Hoặc là:
“Chỗ lước lày lông, nội được!”
(“Chỗ nước này nông, lội được!”)
Hay:
“Thằng Nong nàm việc thì nếu náo; nhưng nòng nợn thì ló gắp nia gắp nịa.”
(“Thằng Long làm việc thì lếu láo; nhưng lòng lợn thì nó gắp lia gắp lịa.”)
“Mình không nàm thì có bảo mình không nàm; mà mình nàm thì ló nại bảo mình nàm nấy nệ.”
(“Mình không làm thì có bảo mình không làm; mà mình làm thì nó lại bảo mình làm lấy lệ. ”)
“Tự nhiên như người Hà lội.”
(“Tự nhiên như người Hà nội.”)
Toàn bộ các chữ có “l” phang tới thành “n” và ngược lại (!)
Đại đa số dân Bắc kỳ (kể cả người viết và gia đình) còn nói trật nguyên âm “r, d, gi” (“rờ” thành ra “dờ” hay “giờ”):
“Kính dâm”
(Kính râm / kính mát)
“Mấy giờ giồi?”
(“Mấy giờ rồi?”)
Một em xướng ngôn viên (bây giờ vi-xi gọi là “phát thanh viên”) của một chương trình truyền hình trên VTV ở Việt Nam loan báo tin thời tiết nghe mà muốn “dởn da gà” luôn như sau:
“Có mưa dào dải dác; nhưng dét da diết.”
(”Có mưa rào rải rác; nhưng rét (lạnh) ra riết.”
“Mưa dừng ơi mưa dừng.”
(Như ông bạn Vũ Khanh của tôi ca lời bản nhạc “Mưa Rừng” của Huỳnh Anh)
Và nổi bật nhất và phổ thông nhất là sai nguyên âm “tr, ch:”
“Mười lăm chăng chòn; mười sáu chòn chăng.”
(“Mười lăm trăng tròn; mười sáu tròn trăng.”)
Hay là:
“Đường xưa lối cũ có bóng che, bóng che che thôn làng
Đường xưa lối cũ có ánh chăng, ánh chăng soi đường đi.”
(Lời ca bài hát “Đường xưa lối cũ” của Hoàng Thi Thơ mà tôi nghe ca sĩ Quang Minh – cũng dân Hải phòng – hát).
Trong khi lời hát đúng phải đọc là:
“Đường xưa lối cũ có bóng tre, bóng tre che thôn làng
Đường xưa lối cũ có anh trăng, ánh trăng soi đường đi.”
Một số địa phương ở Bắc như Nam Định, Ninh Bình và Thái Bình… vẫn phát âm đúng các phụ âm “r, d và gi” trong khi phần lớn các vùng khác (ở miền Bắc) đều phát âm sai.
Nên để ý, thật oái oăm, nghịch lý ở đây là hai thứ ngọng (có lẽ vì lười không chịu uốn lưỡi ?!) rành rành “tr” thành “ch” và “r” thành “d, gi” của dân Bắc kỳ lại được đại chúng có khuynh hướng rộng lượng chấp nhận như là “dạng chuẩn” riêng trong vấn đề hát lời ca của ngành tân nhạc (?). Một vài ca sĩ không phải gốc Bắc kỳ như Ngọc Hạ (Đà Nẵng / Quảng Nam, miền Trung), và Phương Dung (Gò Công, miền Nam) khi hát tân nhạc đôi khi đã cố tình phát âm đúng chữ “tr” (trăng, trong, trời) chứ không đổi sang “ch” như thông lệ thì nghe lại có vẻ rất căng thẳng (?) và ngượng ngạo (?) Thành ra vấn đề âm thanh ngọng (mà thuận tai?) được chấp nhận (hay không) còn tùy vào sự cảm nhận của đại chúng. Như vậy, không có gì gọi là “chuẩn” tuyệt đối cả.
Vùng Hải Hậu, Nam Định thì lại ngọng “tr, t” một cách khác:
“Con tâu tắng nằm cạnh gốc te tụi giữ tưa hè.”
(“Con trâu trắng nằm cạnh gốc tre trụi giữa trưa hè.”)
Tương tự, một số dân ở địa phương Thái Bình thì lại ngọng chữ “r, d” một cách khác nghe rất lạ tai. Như bà hàng xóm của tôi (gốc Thái lọ) là dân di cư 1954 ở Sài gòn cứ gọi con ơi ới:
“Rương ơi Rương! Ra đây mẹ cho miếng rưa.”
(“Dương ơi Dương! Ra đây mẹ cho miếng dưa.”)
Hà Tây, Hà ta thì cũng “lười,” bỏ bớt dấu huyền của mỗi chữ cho nó đỡ vướng:
“Con bo vang”
(“Con bò vàng”)
Hát là:
“Nhin chiêu vang đôi thông thưa thớt
Long bôi hôi buôn trông theo bóng”
(“Nhìn chiều vàng đồi thông thưa thớt
Lòng bồi hồi buồn trông theo bóng”
(Lời bản nhạc “Chiều Vàng” của Nguyễn Văn Khánh)
Người Bắc đọc sai tất cả chữ phụ âm “s” thành âm “x” hết ráo trọi; trong khi người miền Trung và miền Nam lại phân biệt “s, x” rất rõ ràng. Bắc kỳ đọc “s, x” như sau đây:
“Xáng xớm xương xuống xào xạc; xã xệ xửa xoạn xuống xuồng xang xông.”
(“Sáng sớm sương xuống xào xạc; xã xệ sửa soạn xuống xuồng sang sông.”)
Mẹ tôi còn kể thêm là ở ngoài Bắc, có vùng còn ngọng nguyên âm “s, x” ra “th” mà tôi chưa kiểm chứng được xem ra loại ngọng này thuộc vùng nào (Kính nhờ các bác uyên thâm bổ túc dùm nhà cháu ở phần này):
“Thúng hay thấm? hay trẻ con thậm thàn”
(“Súng hay xấm? hay trẻ con dậm sàn”)
2- Trung kỳ
Dân Trung kỳ (Huế và các xứ Quảng) hầu hết nói chéo (sai) hai dấu hỏi ngã:
“Đễ kỹ niệm”
(“Để kỷ niệm”)
(Nhà văn PNN tiếp lời MC Nam Lộc trên một “Asia DVD” trong chủ đề “Vinh danh người lính QLVNCH”).
Hoặc đổi phụ âm “t” thành “c” ở cuối chữ:
“Làm lụng đầu tắc mặc tối.”
(“Làm lụng đầu tắt mặt tối.”)
Người Huế chính gốc “ớt hiểm” còn chơi thêm dấu “nặng” vào hầu hết các các chữ; và đồng thời thêm “g” ở cuối chữ “không g.” Hiểu như vậy thì quý vị cũng đừng ngạc nhiên khi một cô thợ hớt tóc người Huế thơ mộng hỏi: “Anh muốn cắt dài hay cắt ngắn?”
“Hắng” / “Hắn”
Miền Trung, nhất là xứ Quảng, đôi khi xài sang, cho thêm nguyên âm “o, a” ở giữa chữ cho long trọng:
“Đo(á)m noái / Đám nói”
Hay:
“Đo(á)m hoải / Đám hỏi.”
Hoặc:
“Lâu đo(à)i tình o(á)i.” / Lây đài tình ái.”
Vùng Bình Định Qui Nhơn phát âm “hơi sai” nguyên âm “a, ă, e, ê, iê:”
“Nem boa bửa không tém một bửa”
(Đọc số phone: “537-0817”)
Hoặc:
“eng / ăn;” ” “téc đèng / tắt đèn;” “Chó kéng / Chó cắn;” “Nghem / Nghiêm.”
Dân Khánh Hòa, Phú Yên ngoài “a, ă, e, ê, iê…” (nhưng nghe sai có vẻ nhẹ nhàng hơn người Bình Định) còn đọc “ơ” thành ra “u” mới chết người. Gia đình thằng em cột chèo của tôi người Nha Trang (Khánh Hòa) nói thoải mái mời tôi:
“Mời anh ở lại ăn cum / ăn cơm.”
3- Nam kỳ
Dân Nam kỳ, đa số, có khó khăn khi phát âm các chữ bắt đầu bởi phụ âm “v, d.” Chẳng hạn:
“Dân dzệ dê dzợ dân dzận. Dân dzận dzậng dân dzệ.”
(“Anh lính Dân Vệ mê vợ của anh cán bộ của Ty Dân Vận Chiêu hồi. Làm cho anh cán bộ Dân Vận Chiêu Hồi giận hết sức!”
Hoặc:
“Cười lên đi để dzăng dzàng sáng chói / Răng vàng”
(Lời hát nhái trong dân gian cho câu “Kìa thôn quê dưới trăng vàng bát ngát” từ bài “Khúc ca ngày mùa “của Lam Phương).
Hoặc:
“Đi đâu chơi mới dzề hả? Dzui hông?…”
(“Đi đâu chơi mới về hả? Vui không?”)
Và sai lẫn lộn phụ âm “t, c” ở cuối mỗi chữ, đồng thời đôi khi tiện tay bỏ bớt nguyên âm (a, e, i, o, u) ở giữa chữ:
“Giữ chặc tình thân hủ / Giữ chặt tình thân hữu;”
“Cúi từng có giá đặt biệt / Cuối tuần có giá đặc biệt”
Đồng bào “Nam bộ” ta cũng dùng chéo (sai) hai dấu “hỏi ngã” và thêm “g” vào chữ “không g” như các bác Trung kỳ:
“Cho tui xin nửa chéng cơm nửa.”
(“Cho tôi xin nửa chén cơm nữa.”)
“Tổ quắc ăng năng / ăn năn”
Bà mẹ vợ tôi, người gốc Long Xuyên, khi nói đã tự ý đổi “y” thành “i” ở cuối chữ; đôi khi nghe cũng dễ bị hiểu lầm lắm (?):
“Tịm chúng tôi có báng đủ các lọi đồng hồ đeo tai.”
“Tiệm chúng tôi có bán đủ các loại đồng hồ đeo tay.”
(Như lóng rày ca sĩ BC làm quảng cáo cho tiệm đồng hồ Tic-Toc trên TV) .
Riêng dân vùng đồng bằng sông Cửu Long: Cần Thơ, Bạc Liêu, Sóc Trăng còn ngầu hơn, miệt này phát âm chữ “r” thành ra “g” nghe thoáng như lưỡi bị ngắn (?) hoặc giống tiếng Miên (?):
“Bắt con cá gô bỏ gổ, nó gục gịch gục gịch gớt dzào gổ gau găm.”
(“Bắt cá rô bỏ rổ, nó rục rịch rục rịch rớt vào rổ rau răm.”)
Tôi có rất nhiều bạn nói kiểu “đi ga chết gồi” (“đi ra chết rồi”) này. Nghe riết rồi cũng quen tai.
Ngoài ra, còn có hàng chục thổ ngữ nhỏ khác với cách phát âm và chữ dùng mà người vùng khác không tài nào hiểu nổi. Tuy nhiên bài viết ngắn này chỉ là một bài tạp bút, không phải là một bài khảo cứu ngôn ngữ; cho nên, trong phạm vi giới hạn, không tiện kể ra hết cho hoàn tất, đầy đủ. Nếu hưởn, quý vị có thể tự tìm hiểu thêm. Có một điều đáng để ý là người miền Nam nói sao thì họ viết y như vậy cho nên người Nam dễ bị sai chính tả (ngọng viết) hơn là đồng bào miền Bắc và Trung – Người miền Bắc và Trung tuy phát âm sai nhưng phần lớn lại viết đúng chính tả!
A. Kinh nghiệm gia đình và cá nhân người viết
Tôi sinh ra tại vùng ngoại ô của thành phố Hải Phòng vào năm 1950 và lớn lên ngay giữa trung tâm thành phố này – Thật ngẫu nhiên, Hải Phòng cũng là sinh quán của một số văn nghệ sĩ tên tuổi đương thời như: nhạc sĩ Văn Cao, Gia đình Lữ Liên (Lữ Liên, Thúy Liễu, Bích Chiêu, Tuấn Ngọc, Khánh Hà, Anh Tú, Thúy Anh, Lưu Bích… cả tiểu đội!), kép cải lương Hùng Cường, minh tinh Thẩm Thúy Hằng, nhạc sĩ Ngô Thụy Miên, ca sĩ Thu Phương, Quang Minh… (người viết xin phép được tiện đây thấy người sang bắt quang làm họ một tí cho thay đổi không khí!) nhưng đồng thời tôi cũng tự phát giác ra Hải Phòng là “thủ đô nói ngọng” (loại “phản cảm,” “nhà qué” “có 102 – một không hai ” “l,n”) của Việt Nam (xin lưu ý: Tôi thấy các “siêu sao” gốc Hải Phòng nổi tiếng mà tôi vừa liệt kê ở trên không có “sao” nào nói ngọng “l,n” cả mới là lạ !).
Gia đình nhỏ của bố tôi có 3 anh em trai, tất cả đều sinh ra tại Hải Phòng. Tôi cứ nhắm mắt mà vẫn yên tâm cam đoan là cả ba người (bố tôi và hai ông chú) đều nói ngọng lúc thiếu thời… Khi lớn lên, bố tôi và một ông chú nhỏ tuổi nhất làm “cách mạng kinh tế” phá rào, vượt qua lũy tre xanh, rời xa khỏi địa bàn Hải Phòng, đi lính quốc gia… Kết quả, sau này hai người (Bố tôi và ông chú trẻ) nói và viết tiếng Viêt không còn ngọng một tí ti ông cụ nào. Riêng ông chú tuổi kế bố tôi ở lại “bám trụ” Hải Phòng ngay từ ngày đầu chú mới sinh ra cho tới tận bây giờ; thì ông chú này và 8 đứa con vẫn ngọng đặc cán mai. Năm 1948, bố tôi 24 tuổi từ Sài Gòn trở về Bắc làm cảnh sát Hải Phòng; và lập gia đình với mẹ tôi – mẹ tôi cũng là dân sinh quán Hải Phòng; và chính mẹ tôi cũng nói ngọng “l,n” khá nặng. Tôi và 3 đứa em lớn được sinh ra tại Hải Phòng. Năm 1954 gia đình tôi (bố mẹ và 4 anh em tôi) tị nạn cs, theo làn sóng di cư vào Nam. Đến hôm nay, gia đình tôi có cả thẩy 8 anh em ruột và gia đình ông chú trẻ của tôi có 5 đứa con; tất cả chúng tôi (tổng cộng 13 người con của thế hệ thứ nhì) không có một ai nói ngọng “l,n” (nên biết chúng tôi nói rặc tiếng Bắc 54 y chang như quý vị nghe giọng nói của ca sĩ Vũ Khanh và Ý Lan – hoàn toàn khác hẳn với giọng Bắc kỳ 75 của Bằng Kiều, Nguyễn Hồng Nhung).
Năm 2005 tôi có dịp về Việt Nam, ghé qua thăm quê quán Hải Phòng thì mới thấy là tất cả toàn bộ (“chăm phần chăm”) họ hàng bên nội bên ngoại của tôi đều ngọng “l,n” hết ráo. Môt cô cháu gái của tôi, tuổi hai mươi mấy, trông dáng trắng da dài tóc xinh xắn, làm giáo viên tiểu học ở Hải Phòng, cũng ngọng “l,n” rất trầm trọng (có nghĩa là tất cả các chữ “l” đều đánh ra thành “n” và ngược lại); Ngọng líu lo (“l,n”) mà làm nghề mô phạm dậy trẻ con thì xem ra còn tệ hơn là đặc công khủng bố (văn hóa). Làm thiệt mạng (rất nhiều) người chứ chẳng phải chuyện đùa!
Qua kinh nghiệm của gia đình và cá nhân tôi thì sự phát âm sai (ngọng) phần lớn là vì ảnh hưởng của môi trường phát âm sai (Hải Phòng); không phân biệt được chữ đúng… Nếu có dịp đi ra khỏi môi trường ngọng này, như bố tôi chẳng hạn, và hội nhập vào môi trường phát âm đúng; hoặc có người chỉ dẫn như được học hành với thầy cô nói tiếng Việt chuẩn thì sự “ngọng” có thể dần dần sửa chữa được. Như vậy, “ngọng” là một bệnh nan y thật nhưng không phải là hoàn toàn hết thuốc chữa…
Điều đáng chú ý là ngoại trừ loại ngọng “phản cảm” “l,n”, hầu hết các loại ngọng hay phát âm sai bét khác đều được công chúng dễ dãi xí xóa thông cảm. Ngọng “l,n” đặc biệt bị phân loại là “sai cơ bản,” “bất bình thường”, “không chấp nhận được”. Trong giao tiếp bình thường mọi ngày, người ngọng “l,n” đôi khi còn bị hiểu lầm và bị “đánh giá” thấp như “nhà quê,” “ít học,” “kém văn hóa…” Trời đất! Quê tôi!
B. Bàn thêm một chút về lý do ngọng
Bên trong vòng đai lũy tre xanh, một cộng đồng khép kín, buổi sáng thức dậy đi làm ruộng, tối trở về nhà ăn uống nghỉ ngơi rồi ngày mai lại thức dậy đi làm ruộng tiếp thì với cuộc sống đơn giản như vậy, số người tiếp xúc hàng ngày chỉ loanh quanh là người trong gia đình làng xóm… Lời ăn tiếng nói hàng ngày và phong tục đã thấm sâu vào trong con người. Sự nói ngọng (phát âm sai) đã trở thành thói quen chung (cả làng đều ngọng cả), không ai thấy có nhu cầu hay tác động gì cần thiết phải sửa đổi.
Sau khi ra khỏi lũy tre xanh, gia nhập một cuộc sống phức tạp hơn, bon chen hơn, phải giao tiếp rộng rãi hơn với mọi người khác xứ; rồi qua phản ứng của họ (người khác xứ nghe mình nói ngọng thương hổng nổi!) người phát âm sai lúc đó mới cảm thấy được những cái bất lợi của việc phát âm sai của mình. Từ đó tác động vào ý muốn sửa chữa, vượt qua những lỗi phát âm.
Có một anh chàng “ngọng” đẹp trai vừa chân ướt chân ráo ra khỏi lũy tre xanh; vào một buổi đẹp trời phải lòng một em gái văn minh phố thị. Mặc dù anh biết cô em nhiều lần tỏ vẻ lạnh lùng không muốn thân thiện (phần lớn cũng chỉ vì kỳ thị tiếng nói ngọng), nhưng anh đẹp trai đã lỡ yêu rồi nên cũng liều, cố lấy hết can đảm viết ra một lá thư tình “ngọng.” Quý vị thử tưởng tượng xem khi đọc lá thư “phản cảm” này đại khái như dưới đây thì liệu cô nàng “xí xọn, khó tính” có mủi lòng được hay không?
“Em Nan ơi. Anh đã nhiệt niệt no nắng cho em đủ mọi chuyện thế mà em vẫn chưa hiểu cho nòng anh; Em vẫn tỏ vẻ nạnh nùng với anh. Bây giờ anh không biết phải nàm thế lào để nấy được nòng em….
Nễ.”
Em Lan (“Nan”) vì đã “dị ứng” sẵn với sự ngọng của anh Lễ cho nên tỏ vẻ cự tuyệt hơi quyết liệt. Em Lan dùng chính ngôn ngữ của anh “Nễ” trả lời anh “Nễ” vì mong anh “Nễ” dễ hiểu rõ ý của em. Em Lan viết trả lời anh “Nễ” đại khái như vầy:
“Anh Nễ nàm em sợ nắm. Em còn bé, không dám nghĩ đến chuyện tình cảm người nhớn… Nếu anh không giận em thì xin anh vui nòng nàm phúc sơ tán qua vùng khác nàm ăn để em còn yên chí học hành; no cho tương nai.
Lan.”
Chuyện tình cảm tha thiết, thành thật, đứng đắn mà không may dùng phải chữ nghĩa ngượng ngạo của vi-xi; cộng thêm chữ viết ngọng thì là một thảm kịch chứ không giống hai người đang diễn hài (kịch)… Có lẽ anh Lễ cần rất nhiều may mắn (và cả phúc đức nữa) mới có cơ may kết duyên với một em gái không ngọng.
Thiệt tình. Ai bảo cuộc đời này không bất công?
C. Làm sao sửa được tật nói ngọng
Trước hết người nói ngọng phải tự ý thức được sự ngọng của mình thì vấn đề sửa đổi mới có hiệu quả – Cái mục này nói thì dễ lắm mà làm là chuyện vượt cả Trường Sơn Đông lẫn Trường Son Tây trong một buổi…). Đối với một số người bảo thủ lý luận là: “Đây là tiếng mẹ đẻ; cha ông tôi đều nói như vậy. Tại sao phải thay đổi?” thì đành chịu.
Khoảng 5 tuổi trở lên, trẻ con bắt đầu hiểu được tiếng nói, và biết bắt chước cách phát âm tiếng mẹ đẻ. Nếu ngôn ngữ được uốn nắn ngay từ lúc này thì rất tốt (kể ra càng sớm càng tốt). Người đứng ra hướng dẫn và uốn nắn tốt nhất là thầy cô giáo vì ngay cha mẹ nhiều khi cũng đã ngọng sẵn rồi còn gì. Các cô giáo có than phiền là dù đã tương đối thành công sửa giọng ngọng của các em ở trong lớp; nhưng khi các em trở về nhà, sống giữa gia đình ông bà bố mẹ anh chị đều nói ngọng thì các em lại ngọng trở lại… Xem ra “sự nghiệp giải phóng dân tộc” còn dễ hơn là “sự nghiệp giải phóng ngọng!”
Muốn chữa nói ngọng thì phải nói cho chậm rãi để có thời giờ nghĩ và chỉnh các âm sai. Thầy giáo và bạn bè thân thiết có thể giúp đỡ rất hữu hiệu trong việc nhận diện các âm sai và sửa sai. Quan trọng nhất là sự kiên tâm, chịu khó luyện tập lâu dài. Ở Mỹ có những chuyên viên về sửa chỉnh ngôn ngữ (Speech Therapist / Speech Therapy) được đào tạo đặc biệt để giúp các công dân Mỹ có vấn đề phát âm Anh Ngữ như ngọng, cà lăm. Các tay chơi thể thao nổi tiếng như Bill Walton (basketball), Bo Jackson (football) bị cà lăm rất nặng khi họ mới xuất hiện trong các cuộc phỏng vấn từ của các đài truyền hình thể thao phát hình các trận đấu giữa các trường đại học hoặc thể thao chuyên nghiệp. Thế mà chỉ sau một thời gian ngắn, nhìn thấy rõ là họ đã có thể trở thành người ăn nói bình thường, trôi chảy khi họ đảm nhận các vai trò phân tích thể thao (sprt analysts) cho truyền hình Mỹ trong các trận đấu.
Đã có nhiều ý kiến cấp tiến khá mạnh dạn cho rằng giải quyết vấn đề ngọng phải bắt đầu ngay từ lớp thấp nhất của trường tiểu học. Các trường sư phạm đào tạo thầy giáo, cô giáo tiểu học được đề nghị sẽ phải bắt buộc có điều kiện thu nhận khắt khe: Chỉ thu nhận thí sinh, sinh viên (làm thầy giáo trong tương lai) không ngọng. Có như vậy thì mới mong tìm ra lời giải, cách xuyên phá được vòng lẩn quẩn (dirty cycles), của bài toán “ngọng.” Tình trạng ngọng hiện nay ở trong nước thật đáng bi quan: Nhiều trường học của các huyện nằm ngay trong thủ đô, cái nôi văn hóa, Hà Nội (huyện Đông Anh hay Mê Linh chẳng hạn) có đến 30-40% tổng số học sinh tiểu học nói ngọng và 20-30% giáo viên ngọng – mà cả thầy Hiệu trưởng và Hiệu phó cũng ngọng luôn thể !
“Còn trời còn đất còn non nước
Có lẽ ta đâu (ngọng) mãi thế này.”

Học cách "nói chuyện" với cha mẹ

|0 nhận xét
Giới trẻ có thể ngồi hàng giờ tán gẫu với bạn bè. Nhưng với cha mẹ, dường như có một rào cản vô hình khiến nhiều bạn trẻ ngại nói chuyện với cha mẹ

Nói chuyện với cha mẹ bạn mỗi ngày để tạo sự kết nối giữa bạn và gia đình
Khi bạn còn nhỏ, cha mẹ luôn là người đầu tiên bạn chia sẻ mọi suy nghĩ hay vấn đề của bạn. Vậy điều gì khiến bây giờ khi đã lớn hơn bạn lại khó nói chuyện với cha mẹ?
Nguyên nhân chính là sự thay đổi tâm lý ảnh hưởng đến mối quan hệ đã có từ lâu. Bạn muốn độc lập và tự chủ hơn ở tuổi đang trưởng thành. Đây là thời gian bạn tự mình học hỏi và khám phá cuộc sống trưởng thành.
Bạn tự chủ hơn và quyết định mọi vấn đề của mình nhưng cha mẹ và người lớn luôn coi bạn vẫn còn là đứa trẻ. Mọi người muốn đóng góp ý kiến vào mọi việc làm và quyết định của bạn. Nhiều khi bạn có một ý tưởng tốt nhưng nhưng cha mẹ vẫn muốn bạn theo ý kiến của họ. Đó là thời gian xung đột giữa cha mẹ và con cái. Chính vì thế mà ở tuổi dậy thì nhiều lúc bạn cảm thấy cô đơn.
Sau đây là vài lời khuyên dành cho bạn để tự tin nói chuyện với cha mẹ:
Hãy nói chuyện một cách rộng mở
Cách tốt nhất để nói chuyện với cha mẹ hay người lớn tuổi là luôn nói chuyện với họ, không ngại gì cả. Hãy nói chuyện với họ như những người bạn thân của mình. Nói chuyện với cha mẹ bạn mỗi ngày để tạo sự kết nối giữa bạn và gia đình. Không có nghĩa là nói chuyện với họ về mọi thứ. Rất đơn giản mỗi buổi sáng chào bố mẹ, trong bữa ăn cùng trò chuyện hỏi thăm về tình hình công việc, sức khỏe của bố mẹ thế nào.
Không đồng ý không có nghĩa là vô lễ
Cha mẹ cũng như chúng ta, không thể biết hết mọi vấn đề. Lúc người lớn sai, bạn không nên phản đối ngay lập tức. Hãy lắng nghe và sau đó trình bày ý kiến của mình, nói ra cha mẹ sai ở đâu. Cũng có thể bạn nhờ người lớn khác góp ý với cha mẹ bạn.
Vậy nói không đồng ý với cha mẹ thế nào ?
Chúng ta không nên nói với cha mẹ: “Con không thích vì đó là việc vớ vẩn” mà hãy nói: “Con không đồng ý với ý kiến cha mẹ và lý do tại sao”. Chúng ta nên nói “con” thay cho “ bố” hay “mẹ”. Dùng từ con để nói bạn thế nào, bạn cảm thấy thế nào, và bạn cần gì. Ví dụ “Bố mẹ luôn bắt con làm việc nhà, trong khi con có bao nhiêu là bài tập” rất khác với “Con có rất nhiều bài tập, con có thể làm việc nhà vào ngày mai được không?”
Lập kế hoạch bạn nói cái gì đầu tiên
Bạn có thể viết ra giấy những gì bạn muốn nói để khi nói chuyện vấn đề của bạn luôn trọng tâm vào đó. Một số người lớn cũng dùng cách này khi nói chuyện hay giao tiếp công việc.
Nói chuyện vào thời gian thích hợp
Bạn hãy lựa chọn thời điểm thích hợp để nói chuyện với cha mẹ. Khi cha mẹ bận thì khó có thể ngồi lắng nghe vấn đề của bạn, và họ có thể lẵng quên hoặc gật đầu qua loa. Bạn có thể chọn thời điểm buổi tối khi cha mẹ rảnh rỗi, lúc gia đình đang sum họp,…
Nhiều vấn đề riêng tư muốn nói với cha hoặc mẹ thì chúng ta nên hỏi xem khi nào họ có thời gian cho bạn. Một cách hay bạn có thể viết điều bạn mong muốn ra một lá thư và đưa cho cha mẹ, để cha mẹ đọc trước sau đó chúng ta nói chuyện với các bậc sinh thành ra mình.
Chọn người thích hợp
Bên cạnh cha mẹ, thì những người lớn tuổi bạn cũng  đều có thể bày tỏ với họ vấn đề của bạn. Có nhiều việc khó nói với cha mẹ, bạn có thể nói chuyện với họ. Tùy vào vấn đề quan tâm của mình mà tìm người trò chuyện thích hợp. Nếu hỏi về các vấn đề giới tính bạn có thể hỏi các bác sĩ, nhà tư vấn. Nếu hỏi về học hành hay lập nghiệp bạn nên trò chuyện cùng thầy cô giáo của bạn.
Các thành viên khác trong gia đình: anh chị, chú dì, … cũng là những người có thể sẵn sàng nói chuyện với bạn. Thậm chí, bố mẹ người bạn thân cũng có thể giúp bạn
Nói chuyện với cha mẹ hay người lớn dường như rất khó với tuổi dậy thì, nhưng chỉ có một khoảng thời gian này. Nói chuyện với cha mẹ và những người lớn trong gia đình làm tăng tình cảm ấm áp của gia đình, và mọi người trong gia đình luôn hiểu bạn. Đừng ngại nói chuyện với cha mẹ và những người lớn vấn đề của mình các bạn nhé!
Học cách
Sưu tầm
Trở về ]

6 CÁCH LẤY LÒNG SẾP

|0 nhận xét
VHN - Sếp là người quyết định mức lương và sự thăng tiến của bạn, vì thế ai ai cũng muốn lấy lòng Sếp , tuy nhiên điều này không đơn giản tí nào, bởi bạn cần phải biết hành xử như thế nào đúng theo mong đợi của Sếp để không gây tác dụng ngược lại. Những đúc kết từ mong muốn của ban lãnh đạo đối với nhân viên của mình sau đây hy vọng giúp bạn làm hài lòng Sếp.
1. Siêng năng, cần cù
Chẳng Sếp nào lại muốn trả lương cho nhân viên của mình sử dụng giờ làm việc để làm việc riêng hay cứ ngồi chờ hết giờ lại về. Cho dù sếp bạn là người dễ dãi, bạn cũng phải có thái độ làm việc thật nghiêm túc, khi công việc đã xong bạn nên kiểm tra kỹ có gì sai sót hay không? Đôi khi việc kiểm tra đó cũng giúp bạn phát hiện ra điều gì mới mẻ để rút kinh ngiệm làm tốt hơn ở những lần sau. Bạn cũng có thể giúp đỡ các đồng nghiệp trong công việc của họ, như thế Sếp sẽ nhận ra bạn rất nhiệt tình trong công việc.

2. Tuân thủ giờ giấc
Mỗi công ty đều xây dựng cho mình một quy chế làm việc, trong đó có quy định rõ thời gian làm việc. Vì vậy là nhân viên bạn phải tuân thủ điều này, đối với các Sếp người châu Á việc đi trễ về sớm là điều cấm kị, các Sếp châu Âu tuy có phóng khoáng đôi chút tuy nhiên bạn cũng đừng bao giờ để cho họ thấy bạn trễ giờ dù chỉ là một phút.

3. Năng động và chủ động trong công việc
Các Sếp là những người đi trước họ có rất nhiều kinh nghiệm và sẵn sàng hướng dẫn bạn một cách nhiệt tình. Tuy nhiên bạn không nên lúc nào cũng hỏi Sếp từ việc lớn đến việc nhỏ, như vậy Sếp sẽ đánh giá bạn là người không có năng lực thực sự. Với mỗi công việc bạn phải tự lực suy nghĩ để tìm ra hướng giải quyết, chỉ hỏi Sếp khi việc đó thật sự khó khăn mà bạn không chắc chắn là đúng. Ngoài ra những công việc gì mà Sếp đã hướng dẫn một lần, bạn cần phải ghi nhớ, nếu cần thiết bạn có thể ghi ghép cẩn thận để không hỏi lần thứ hai.

4. Tôn trọng Sếp
Đối với Sếp kém hơn mình về trình độ và kinh nghiệm, bạn không nên “vượt mặt” vì dẫu sao cũng là sếp của mình, khi có ý tưởng hay ý kiến gì muốn trình bày với ban lãnh đạo, bạn nên trao đổi với Sếp trước khi đưa lên ban lãnh đạo cao hơn.
Với Sếp là người đứng tuổi bạn nên cẩn trọng lời ăn tiếng nói, kể cả lời khen vì đôi khi lời khen trở thành nịnh bợ. Người lớn tuổi thường hay bảo thủ vì vậy bạn cần phải biết lắng nghe và tiếp nhận để tránh làm phật lòng Sếp. Khi có một ý kiến gì muốn đề xuất bạn nên chuẩn bị đầy đủ lí do và hướng giải quyết trước khi trình bày.

5. Thân tình với Sếp
Trong công việc mối quan hệ giữa bạn và Sếp thực sự có khoãng cách, bạn cần tôn trọng Sếp, thể hiện phong cách làm việc chuyên nghiệp như đã đề cập ở trên. Tuy nhiên bản thân Sếp cũng muốn hòa đồng cùng với nhân viên, vì vậy khi nói chuyện với Sếp ngoài công sở như nói về đội bóng yêu thích, những vấn đề kinh tế xã hội bạn hãy thể hiện chân thành như một người bạn. Sếp sẽ nhận ra bạn là một người đáng tin cậy trong công việc lẫn trong cuộc sống.

6. Hòa nhập với mọi người
Khi công ty có tổ chức liên hoan, du lịch hay bất kỳ sự kiện nào bạn nên tham gia cùng với mọi người nếu có thể. Làm như thế Sếp sẽ thấy rằng bạn là người có thể làm việc theo nhóm và có tinh thần tập thể rất cao.

Trong chúng ta ai cũng muốn vươn lên trong sự nghiệp bằng sự nổ lực của bản thân và khả năng, tuy nhiên sự khéo léo trong cách lấy lòng cũng là một chìa khóa giúp bạn thành công.

11 điều không nên nói với sếp

|0 nhận xét

   Đừng bao giờ nói với sếp bạn chán việc, những câu có từ “nhưng” theo sau, hay kêu mệt với sếp…

11 điều tuyệt đối không nên nói với sếp
Khi bạn còn đang tìm kiếm một công việc, bạn dành nhiều thời gian để nghĩ xem mình nên nói gì. Nói gì trong hồ sơ xin việc, nói gì khi trả lời phỏng vấn, nói gì với nhà tuyển dụng sau đó. Khi bạn đã có được công việc, thì việc biết nên nói gì và tránh nói gì cũng quan trọng không kém, nhất là khi bạn nói với sếp.

Trong quá trình làm việc, bạn rất dễ trở nên quen thân với cấp trên. Khi cùng làm việc nhiều giờ đồng hồ trong một môi trường thân thiện, sếp của bạn cũng sẽ giống như một đồng nghiệp trong nhóm. Nhưng bạn không được quên rằng sếp là không phải là một người bạn, mà thay vào đó, sếp là sếp - người có vai trò đối với một phần không nhỏ trong sự nghiệp của bạn khi bạn làm công việc dưới quyền sếp. Tất cả những gì bạn nói và sẽ nói với sếp đều có thể được sử dụng để chống lại bạn. 

Dưới đây là 11 trong số những điều mà bạn tuyệt đối không nên nói với sếp:

1. “Tôi chán công việc của mình”

Có thể bạn chán việc, nhưng đừng bao giờ nói với ai ở công ty, nhất là sếp. Một cách tốt hơn là nhận diện những thách thức mà bạn muốn giải quyết rồi đề nghị với sếp cho bạn nhận thêm nhiệm vụ đó, hoặc chuyển nhiệm vụ khác. Không ai muốn biết là bạn có chán việc hay không, vì thế, hãy giữ điều đó cho riêng mình. Hoặc nếu không, bạn sẽ lại rơi vào cảnh phải đi tìm một công việc khác.

2. “Chúng ta sẽ ‘xõa’ chứ?”

Đừng tìm cách sếp rủ sếp tổ chức cuộc vui, nhất là khi đang ở vào thời điểm căng thẳng hoặc không thoải mái. Cho dù bạn có biết rõ về sếp, thì gợi ý này không chỉ dễ bị “chìm nghỉm”, mà có thể chống lại bạn sau đó. Nếu bạn muốn giành được ảnh hưởng, hãy tập trung vào nhiệm vụ được giao, và đừng nói bao giờ gợi ý rằng có một việc khác thú vị hơn để làm.

3. “Đã đến lúc nghỉ chưa?”


Không nên để lại ấn tượng rằng,  bạn cảm thấy lẽ ra đang ở một nơi khác rồi chứ không phải là còn ở lại cơ quan. Cho dù công việc của bạn không thú vị, thì khi đang làm việc, hãy tập trung vào công việc và đừng để người khác nhìn thấy bạn lúc nào cũng “dáo dác” nhìn đồng hồ. Nếu làm vậy, bạn sẽ rất dễ lâm cảnh thất nghiệp.

4. Bất kỳ một câu nào có từ “nhưng” theo sau

Chẳng hạn “Tôi là một người làm việc theo nhóm, nhưng…” hay “Tôi không có ý phàn nàn, nhưng…”. Từ “nhưng” trong những câu này có ý nghĩa phủ nhận hoàn toàn những gì bạn đã nói trong vế trước.  Nếu bạn không muốn phàn nàn, thì sẽ không có từ “nhưng” nào cả. Nếu bạn là một người làm việc theo nhóm, đừng nêu lý do với sếp về việc bạn không hòa đồng với nhóm. Hãy nghĩ kỹ về cách trình bày ý nghĩ của bản thân. Nếu bạn nói những câu tương tự như trên, rất có thể bạn đã nói nhiều lần. Qua nhiều lần, cách nói như vậy sẽ không để lại ấn tượng tốt đẹp với sếp.

5. “(Kêu ca), và tôi không phải là người duy nhất cảm thấy thế này”


Cho dù bạn đang nói những lời đại diện cho những người khác, thì cũng sẽ hiếm khi bạn thành công nếu phàn nàn với sếp như một “phát ngôn viên tự phong” của cả nhóm. Đừng bao giờ tự “bổ nhiệm” mình vào vai trò này. Khả năng cao nhất là sếp sẽ xem bạn như một kẻ phàn nàn đang tìm cách trục lợi từ sự thật rằng các đồng nghiệp khác không lên tiếng.

6. “Tôi mệt quá”

Chẳng ai quan tâm tới bạn mệt ra làm sao. Hãy cố gắng ngủ nhiều hơn khi không làm việc, và nếu cảm thấy mệt khi ở cơ quan, hãy giải quyết vấn đề bằng một cốc cà phê, ra ngoài đi dạo vài phút, hoặc ngủ giấc ngắn trong giờ nghỉ trưa.

7. “Sếp đã bao giờ nghe chuyện…”


Đừng nói chuyện tếu với sếp, những câu chuyện đùa của bạn sẽ chẳng gây cười đâu. Có thể bạn bè của bạn nghĩ bạn là một “nghệ sỹ tấu tài” không chuyên, nhưng đừng nói những câu chuyện đùa với sếp. Khiếu hài hước là khía cạnh rất cá nhân, và rất có khả năng câu chuyện đùa của bạn có thể xúc phạm sếp, hoặc chí ít là khiến sếp cảm thấy không dễ chịu.

8. “Sếp không thể tin được là chồng/vợ/người thân của tôi đã nói/làm gì đâu”

Không bao giờ nên đưa cuộc sống cá nhân của bạn tới văn phòng. Quan trọng hơn cả, đừng chia sẻ những chi tiết bí mật về chuyện đang xảy ra ở gia đình bạn với sếp.

9. “Tôi sẽ bỏ phiếu cho…”

Cũng giống như đối với đời sống riêng tư, bạn không nên chia sẻ quan điểm chính trị với sếp. Tệ hơn cả việc bạn nói với sếp về ý kiến chính trị của bạn là đề nghị sếp chia sẻ những ý tưởng chính trị của sếp. Hãy tránh những việc này. Cho dù bạn nghĩ sếp đồng ý với quan điểm của bạn, thì việc nói chuyện chính trị ở một môi trường làm việc phi chính trị chỉ có thể gây rắc rối cho bạn.

10. “Sếp đã nghe tin mới nhất chưa?”

Ngồi lê đôi mách dưới bất kỳ dạng nào đều không ổn, nhất là khi bạn lôi kéo sếp vào. Đừng chia sẻ bất kỳ chuyện gì bạn nghe được về đồng nghiệp với sếp, và tránh xa bất cứ khi nào có thể những nơi có “buôn chuyện”.

11. “Không, tôi không thể”

Có nhiều tình huống mà ở đó bạn không thể hoàn thành một công việc nào đó. Nhưng nói “không” với sếp khi trình bày thách thức là điều hoàn toàn không khôn ngoan. Một cách khả dĩ hơn là bạn đề nghị sếp cho bạn thêm thời gian để suy nghĩ về công việc để tìm ra cách hoàn thành. Sẽ là hợp lý nếu bạn xin sếp bổ sung nguồn lực, bao gồm cả nhân lực, cần thiết để giải quyết công việc, nhưng tránh nói “hoàn toàn không thể” nếu bạn có thể làm được.


Theo AOL Jobs

Ba qui tắc nói chuyện với trẻ

|0 nhận xét

  1. Nói câu ngắn đi
  2. Hỏi trẻ ít hơn
  3. Thể hiện ra điều bạn muốn nói 
Tại sao ba qui tắc này lại quan trọng?
Hãy hình dung chính bạn đang học ngoại ngữ. Bạn bất chợt tới một đất nước khác mà không có thông dịch viên. Ba điều nào sẽ giúp bạn học ngôn ngữ mới này nhanh nhất? Giờ bạn đã thấy tại sao những lại cần có qui tắc trên rồi đúng không? Nó sẽ có ích nếu người địa phương dùng những câu ngắn, không đặt nhiều câu hỏi mà bạn không thể trả lời, và nếu họ thể hiện điều họ muốn nói. 
Ta hãy xem xét kĩ hơn từng qui tắc này:
Nói câu ngắn đi: bạn có thể truyền đạt cùng những ý tưởng đó mà dùng ít từ hơn. 
“Anna, cưng à, mẹ không còn tay nào để cầm nữa, con có thể giúp mẹ mang đống tất này lên gác được không?” 
- “Anna (đặt đống tất vào tay cháu), giúp mẹ nào, mang lên gác nhé (chỉ đường cho con thấy).”
Theo kinh nghiệm của tôi: chỉ nên dùng những câu dài hơn 1 đến 3 chữ so với những câu trẻ nói được.
Lưu ý: qui tắc này không áp dụng với lời thoại cố định, là những cụm từ ngắn mà bạn luôn nói cố định như vậy và trẻ hiểu được. 
Hỏi trẻ  ít câu hỏi đi
Hầu hết mọi bố mẹ hay người chăm sóc trẻ mà tôi gặp đều hỏi trẻ quá nhiều. Hầu hết mọi người đều đặt câu hỏi như một cách dạy từ mới:
“Đây là màu gì?”
“Con bò kêu thế nào?”
“Có bao nhiêu con thú?”
Hỏi và tự trả lời là cách thông thường để tương tác với em bé. Bố mẹ trên khắp thế giới đều làm vậy. Nhưng, khi trẻ lớn hơn, và khả năng hiểu ngôn ngữ của trẻ đã khá nhiều hơn mà trẻ vẫn chưa diễn đạt được nhiều, trẻ sẽ có cảm giác như thể mình đang bị kiểm tra mà mình lại không nói lại được. Đặt câu hỏi là một cách kiểm tra từ vựng của trẻ nhưng đó không phải cách tốt để dạy trẻ từ mới.
Dùng từ mới theo những cách thú vị và có ý nghĩa là cách tốt để dạy từ vựng. Hỏi những câu trẻ không thể trả lời không phải là cách tốt để dạy từ vựng cho trẻ. Người lớn có thể hỏi trẻ như là một cách để bắt đầu cuộc trò chuyện.
“Con mấy tuổi rồi?”
“Con học trường nào?”
“Con mua cái váy xinh xắn này ở đâu vậy?”
Hỏi là một cách tuyệt vời để bắt đầu cuộc trò chuyện với những đứa trẻ có kĩ năng ngôn ngữ tốt, nhưng đó không phải cách tốt để bắt đầu cuộc trò chuyện nếu đứa trẻ không có kĩ năng ngôn ngữ tốt bởi vì trẻ không thể trả lời câu hỏi và cháu có thể cảm thấy như vậy thật tệ. 
Nếu bạn muốn hỏi, thì hãy hỏi những câu thực sự: trong một cuộc trò chuyện bình thường hàng ngày, chỉ hỏi trẻ nếu trẻ biết câu trả lời mà bạn không biết. “Con muốn uống nước ép hay sữa?” là một câu hỏi thực sự. “Màu gì đây?” là một bài kiểm tra nho nhỏ bởi vì bạn đã biết đó là màu gì. Hãy tránh những câu hỏi dạng kiểm tra như vậy. Nhiều trò chơi ở trang này được tạo ra để giúp trẻ học từ mới. Hãy học chơi những trò này và bạn sẽ thấy có nhiều cách tốt hơn nhiều để dạy trẻ từ mới 
Thể hiện ra ý bạn muốn nói
Những đứa trẻ gặp khó khăn trong việc hiểu ngôn ngữ thường quan sát cẩn thận xem người khác đang làm gì – ít nhất là khi trẻ quan tâm. Nếu bạn sắp sửa cho trẻ thấy điều gì đó, bạn có thể nói “Nhìn này!” Bạn nên nói “Hãy nhìn này! Bố/mẹ sẽ cho con thấy” một cách thường xuyên để con bạn chuẩn bị sẵn sàng khi bạn sắp sửa nói và quan sát bạn sẽ làm gì tiếp theo. Hãy dạy trẻ quan sát lúc bạn bảo cháu nhìn bằng cách làm những điều thú vị sau khi bạn nói ra câu đó. 
Bạn cũng có thể thể hiện một cách đơn giản ý nghĩa của những lời bạn nói về việc mình đang làm. Ví dụ như“Đây là nước ép, mẹ sẽ rót nước ép ra. Chỉ một chút thôi. Không nhiều lắm đâu. Ồ! Con muốn thêm. Con có thể nói “Thêm nước ép nữa”. Mẹ sẽ rót thêm một chút nước ép nữa. Thêm nữa à? Con khát nước lắm phải không! Mẹ sẽ rót NHIỀU nước ép nhé!” Chiến lược này được gọi là Nói đi đôi với làm. Đó là lúc bạn nói về việc bạn đang làm trong khi bạn đang thực hiện việc đó. Dù vậy hãy nhớ qui tắc rút ra từ kinh nghiệm của tôi và đừng dùng những câu quá dài.